VIỆN HÓA HỌC CÁC HỢP CHẤT THIÊN NHIÊN

Trụ sở: Nhà 1H - Số 18 Hoàng Quốc Việt, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội
Viện trưởng: GS.TS. Phạm Quốc Long
Phó viện trưởng: PGS.TS. Lê Mai Hương, PGS.TS. Nguyễn Mạnh Cường                     
Viện Hoá học các hợp chất thiên nhiên được thành lập theo Quyết định số 65/CT ngày 5/3/1990 của Chính phủ
Người ký: Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ)

ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ
Nhà 1H - Số 18 Hoàng Quốc Việt, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: (+84)(4) 3756.6023
Fax: (+84)(4) 3756.4390
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Website: www.inpc.ac.vn
BAN LÃNH ĐẠO
Viện trưởng: GS.TS. Phạm Quốc Long
Phó viện trưởng: PGS.TS. Lê Mai Hương
PGS.TS. Nguyễn Mạnh Cường
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC (gồm 11 thành viên)

- Chủ tịch hội đồng: PGS.TS. Nguyễn Mạnh Cường
- Phó Chủ tịch hội đồng: GS.TS. Phạm Quốc Long, PGS.TS. Lê Mai Hương
- Thư ký: TS. Lê Minh Hà

CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ
Chức năng: Nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai về các lĩnh vực Hóa học các hợp chất thiên nhiên, hóa dược và vật liệu mới.
Nhiệm vụ:
Nghiên cứu khai thác hợp lý các hợp chất thiên nhiên từ tài nguyên sinh vật ở đất liền, dưới biển và vi sinh vật, bao gồm:
  1. Phát hiện, nghiên cứu khai thác các chất có hoạt tính sinh học trong các tài nguyên sinh vật ở đất liền, dưới biển và vi sinh vật, chuyển hoá và tổng hợp chúng thành những chất có giá trị cao phục vụ cho công nghiệp dược, nông nghiệp và xuất khẩu.
  2. Nghiên cứu các nguồn tinh dầu, hương liệu, từ đó tinh chế những đơn chất quý phục vụ cho các ngành công nghiệp thực phẩm và mỹ phẩm và xuất khẩu.
  3. Nghiên cứu tổng hợp toàn phần và bán tổng hợp chất hữu cơ, đặc biệt là các chất có hoạt tính sinh học, các loại hương liệu nhân tạo quý có giá trị sử dụng cao trong các ngành công nghiệp và xuất khẩu.
  4. Nghiên cứu công nghệ phục vụ cho các ngành công nghiệp về các lĩnh vực hoá học các hợp chất thiên nhiên, công nghiệp dược, thực phẩm.
  5. Xây dựng và triển khai các phương pháp đánh giá hoạt tính sinh học, các phương pháp phân tích thành phần dược liệu thiên nhiên và tổng hợp, phân tích cấu trúc các hợp chất thiên nhiên.
  6. Nghiên cứu và triển khai sản xuất, kinh doanh các hoá chất phục vụ công nghiệp dược, công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm, công nghiệp điện tử, nhiên liệu sinh học, nông nghiệp, bảo vệ môi trường, thăm dò và khai thác dầu khí.
  7. Đào tạo cán bộ sau đại học thuộc lĩnh vực Hoá học các hợp chất thiên nhiên.
CƠ CẤU TỔ CHỨC LỰC LƯỢNG CÁN BỘ
Các đơn vị chuyên môn

- Các đơn vị cấp phòng gồm: Phòng Hoá sinh hữu cơ, Phòng Sinh học thực nghiệm, Phòng Hoạt chất sinh học, Phòng Công nghệ hoá học, Phòng Phân tích hóa học, Phòng Hoá dược, Phòng Hoá Sinh nông nghiệp và tinh dầu, Phòng Công nghệ khai thác và chế biến tài nguyên thiên nhiên, Trung tâm hóa môi trường - CTC, Trung tâm Hóa thực vật và sinh học nano ứng dụng
- 01 nhóm Tổng hợp hữu cơ. 01 Trung tâm Công nghệ hóa học các sản phẩm hóa chất công suất nhỏ Việt Nam – Belarus
- 01 Văn phòng làm việc tại Trạm Nghiên cứu tổng hợp đa ngành Tài nguyên Môi trường Miền Trung - Đồng Hới - Quảng Bình
- 01 đơn vị hoạt động theo Nghị định 35: Liên hiệp Khoa học sản xuất Công nghệ hoá học (đang tiến hành sắp xếp chuyển đổi theo chủ chương của Viện KHCNVN)

Các đơn vị quản lý nghiệp vụ
- Phòng Quản lý tổng hợp
Tổng số CBVC: 82 người

- Số biên chế: 47
- Số hợp đồng: 39
- Giáo sư:
- Phó Giáo sư: 04
- Tiến sỹ khoa học: 01
- Tiến sỹ: 13
- Thạc sỹ: 23
- Cử nhân: 33
- Khác: 09
- NCVCC: 02
- NCVC và tương đương: 07

CÁC HOẠT ĐỘNG THƯỜNG XUYÊN CỦA ĐƠN VỊ
Các hoạt động KHCN theo Chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học công nghệ do Bộ trưởng bộ Khoa học và Công nghệ cấp:
  • Nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ về hóa học các hợp chất thiên nhiên, hóa dược, thực phẩm, nông nghiệp, môi trường và chế biến tài nguyên thiên nhiên.
  • Sản xuất, kinh doanh các sản phẩm trên cơ sở kết quả nghiên cứu hoặc cải tiến công nghệ phục vụ công nghiệp dược, thực phẩm, nông nghiệp, bảo vệ môi trường, thăm dò và khai thác dấu khí.
  • Dịch vụ KH&CN: Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, tư vấn, thiết kế và chế tạo thiết bị, phân tích, thẩm định, giám sát, chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực nghiên cứu trên.
Hoạt động đào tạo: Đào tạo tiến sỹ chuyên ngành Hoá học các hợp chất thiên nhiên mã số 62.44.27.02 (theo Quyết định số 521/TTg ngày 29/5/1995 của Thủ tướng Chính Phủ và Quyết định số 1349/QĐ- BGD&ĐT&SĐH ngày 16/3/2004 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT
A- Trong công tác nghiên cứu cơ bản
Đã tiến hành nghiên cứu điều tra, sàng lọc, phát hiện các loại tinh dầu có giá trị và đã tạo ra một lượng lớn các sản phẩm tinh dầu (tinh dầu lá húng quế Ocimum basilicum L. Việt Nam) có giá trị kinh tế cao (30.000-40.000 USD/tấn) giúp ngành Ngoại thương đảm bảo chỉ tiêu xuất khẩu tinh dầu (những năm 1970-1980).
Đã tiến hành nghiên cứu tổng hợp và bán tổng hợp được nhiều tổ hợp mùi thực phẩm và hương liệu chất lượng cao phục vụ cho ngành công nghiệp thực phẩm, dược phẩm. Các sản phẩm này được bán cho các công ty như Tổng công ty Thuốc lá, Xí nghiệp bánh kẹo Hải Hà. Một số quy trình sản xuất hương liệu được chuyển giao cho nhà máy hoá chất Đức Giang (như Terpineol, Terpylhydrat, ionon…). Các quy trình sản xuất hương sen, hương hoa hồng và tinh dầu quế nhân tạo đã được chuyển giao cho Thành phố Hà Nội và triển khai ở 12 tỉnh thành trong cả nước (những năm 1970-1990).
Viện Hóa học các Hợp chất thiên nhiên là đơn vị đầu tiên ở Việt Nam đã chiết tách và xác định cấu trúc hoạt chất Artemisinin từ cây Thanh hao hoa vàng và triển khai sản xuất với sản phẩm chất lượng cao, cung cấp mẫu cho Bộ Y tế xây dựng tiêu chuẩn Nhà nước. Viện cũng là đơn vị đầu tiên chế tạo thiết bị và chuyển giao công nghệ sản xuất hoạt chất này cho các địa phương như Cao Bằng, Nghệ An, nơi có bệnh sốt rét tái phát. Artemisinin đã trở thành vị thuốc chống sốt rét trọng điểm ở trong nước và trên thế giới, Viện cũng đã chuyển hóa Artemisinin thành các dẫn chất có hoạt tính cao hơn như Artesunat, Artemeter. Công trình chiết xuất Artemisinin đã được nhận được Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2003 (trong đó Viện là đơn vị đồng tác giả giải thưởng).
Viện đã áp dụng mô hình nghiên cứu tiên tiến “Nghiên cứu hóa học theo định hướng hoạt tính sinh học” trong công tác điều tra, khảo sát nhằm “đi tắt đón đầu” và sàng lọc nhanh các chất có hoạt tính sinh học (kháng VSV kiểm định, chống oxy hóa, độc tế bào trên 1 số dòng tế bào ung thư, hoạt tính kháng sốt rét, kháng MAO, NF-kB…). Hiện tại phòng thí nghiệm Thử hoạt tính sinh học của Viện là cơ sở mạnh trong cả nước đã triển khai thử nghiệm kháng sinh vật kiểm định bằng phương pháp sinh học hiện đại và thử nghiệm độc tế bào với các dòng tế bào ung thư người như HepG-2 (gan); RD (màng tim); FL (màng tử cung) và KB (ung thư biểu mô)…, thử nghiệm hoạt tính kháng sốt rét trên hai dòng kí sinh trùng sốt rét mẫn cảm và kháng chloroquine, các kỹ thuật thử nghiệm sinh học hiện đại invitro.
Tiếp thu kỹ thuật phân tích hiện đại và tin học, xây dựng các quy trình và tiêu chuẩn phân tích, kiểm nghiệm chất sạch, sản phẩm thực phẩm, môi trường… bằng các thiết bị hiện đại (máy LC-MS, HPLC, GC-MS, máy phân tích nguyên tố EA 1112…)
Từ năm 1997-2010, Viện đã mở ra hướng nghiên cứu mới: nghiên cứu khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên sinh vật biển Việt Nam nhằm tạo ra các sản phẩm có giá trị phục vụ cuộc sống - một lĩnh vực khoa học có nhiều triển vọng kinh tế cũng như để hoà nhập khoa học với các nước trong khu vực và trên thế giới. Từ những kết quả của hướng nghiên cứu này đã thành lập Viện chuyên ngành quốc gia – Viện Hóa sinh biển thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (năm 2010). Cụm công trình này đã được nhà nước tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học công nghệ (tháng 01/2012), trong đó hai cán bộ của Viện Hóa học các HCTN là đồng tác giả.
Từ các kết quả nghiên cứu, các cán bộ nghiên cứu của Viện đã biên soạn được hơn 30 đầu sách chuyên khảo, 4 giáo trình đào tạo trên đại học, 5 giáo trình về xử lý môi trường và phòng chống ô nhiễm công nghiệp, 4 giáo trình về khuyến nông, trên 300 công trình khoa học được công bố dưới dạng báo cáo khoa học và các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước; đã được cấp 17 bằng độc quyền PMSC, GPHI.
B- Trong công tác ứng dụng triển khai công nghệ
Việc mở rộng hợp tác đa ngành, đa lĩnh vực (hóa-sinh-y-dược) góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu và đẩy nhanh ứng dụng kết quả khoa học vào cuộc sống. Viện đã tạo được nhiều sản phẩm có giá trị cao ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm, y dược như:
- Tinh nghệ Cucurmin từ củ nghệ hỗ trợ điều trị ung thư, viêm loét dạ dày;
- Chế phẩm thuốc Cream EBS-1 (20%) từ mỡ cá biển cho điều trị bỏng hiệu quả (giải thưởng VIFOTEC 2004);
- Chế phẩm Omega 3-L chống lão hóa và tăng cường trí thông minh trẻ em;
- Thuốc MD-25 với tên thương hiệu là NAGYTECCAP được cấp phép lưu hành trong phạm vi toàn quốc (số đăng ký VNB-1552-04);
- Sản phẩm dinh dưỡng cao cấp NUFID;
- Thực phẩm Haliotis sản xuất từ bào ngư dùng cho bệnh nhân suy nhược thần kinh. Sản phẩm đã được Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm - Bộ Y tế cấp chứng nhận số: 956/2007/YT-CNTC;
- Thực phẩm chức năng Cefish cải thiện chức năng chuyển hoá lipít máu, huyết áp ở bệnh nhân tim mạch. Sản phẩm đã được Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm - Bộ Y tế cấp chứng nhận số 6585/2007/YT-CNTC;
- Thực phẩm chức năng Hasamin tăng cường sinh lực bào chế từ Hải sâm. Sản phẩm đã được Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm - Bộ Y tế cấp Chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm số 4978/2006/YT-CNTC;
- Thực phẩm chức năng Bionamine tăng cường thể lực cho vận động viên. Sản phẩm đã được Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm Bộ Y tế cấp chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm số 956/2008/YT-CNTC;
- Trà Mallotus và Viên thực phẩm chức năng Mallotus chứa hoạt chất chính là hoạt chất chính Malloapelta B được chiết tách từ cây Bùm bụp (Mallotus apelta) có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu và giải độc, sử dụng hỗ trợ cho các bệnh nhận viêm gan, người đang điều trị ung thư bằng các biện pháp hoá trị liệu và xạ trị và đã được cấp giấy phép sản xuất và lưu hành của Bộ Y tế;
- Trà Alisma được sản xuất từ cây Trạch tả có tác dụng hạ mỡ máu và cholesterol trong máu đã được Bộ Y tế cấp phép;
- SALAMIN - thuốc hỗ trợ điều trị ung thư từ rong-tảo biển được thực hiện từ các nghiên cứu tại Viện Hóa học các Hợp chất thiên nhiên do Viện Y học cổ truyền Quân đội bào chế dạng viên nang 0,5 gram. Đã có 205 bệnh nhân tình nguyện tại Bệnh viện K sử dụng chế phẩm Salamin, kết quả nghiên cứu lâm sàng cho thấy chế phẩm này không gây tác dụng phụ và có tác dụng hỗ trợ tốt trong điều trị ung thư, nhất là các bệnh nhân đã qua xạ trị;
- Các chế phẩm dầu Omega-3/Omega-6 nguồn gốc thiên nhiên: Từ các kết quả nghiên cứu về lipit và axit béo, các chế phẩm thực phẩm chức năng dầu OMEGA3-L, dầu Vẹm Xanh, và một số sản phẩm Omega-3/Omega-6 khác (OF27). Các chế phẩm có chứa hàm lượng Omega-3/Omega-6 cao có tác dụng như thực phẩm chức năng có khả năng bảo vệ đường tiêu hoá, chống oxy hóa, chống phân bào, chống thấp khớp, chống viêm nhiễm do vi khuẩn và virut, tăng cường hệ miễn dịch - hỗ trợ điều trị các bệnh nan y như ung thư, tiểu đường. Ở Việt Nam, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về các sản phẩm này;
- Thực phẩm chức năng Cốt thoái vương từ Vẹm xanh có tác dụng với các bệnh về xương khớp, thoát vị đĩa đệm, sản phẩm đã được Cục An toàn vệ sinh thực phẩm cấp chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm số 6126/2008/YT-CNTC, Công ty Y dược phẩm Á Âu bào chế và phát hành trên cả nước;
- Chế phẩm CATOSAL có tác dụng đào thải kim loại nặng: Sản phẩm đã được Cục An toàn vệ sinh thực phẩm cấp chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm số 2485/2009/YT-CNTC;
- Chế phẩm HT1 từ nấm Hầu Thủ có tác dụng tăng cường miễn dịch, tăng trí nhớ, phòng và chống bệnh Aizheimer, chống lão hóa, hỗ trợ phòng và điều trị ung thư, chống phóng xạ;
- Thực phẩm chức năng Heriglucan có tác dụng tốt cho đối tượng bị các bệnh liên quan đến suy giảm miễn dịch như: bệnh truyền nhiễm, người có khối u, bệnh nhân ung thư đã qua hóa trị, xạ trị, các bệnh khác liên quan đến tổn thương hệ miễn dịch, vận động viên, người lao động nặng nhọc, người sau chấn thương …; sản phẩm đã được Cục An toàn vệ sinh thực phẩm cấp chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm số 6348/2011/YT-CNTC;
- Sản phẩm cồn tuyệt đối - nồng độ cồn Ethanol đạt trên 99,9%. Sản phẩm là kết quả hợp tác quốc tế giữa Viện Hóa học các HCTN với Trung tâm khoa học Nga, công suất 125 lít/ngày. Sản phẩm có chất lượng vượt trội so với các sản phẩm hiện có trên thị trường trong nước và quốc tế;
- Các sản phẩm phục vụ nông nghiệp: cũng đã được nghiên cứu và triển khai ứng dụng rộng rãi, như: phân bón vi sinh đa vi lượng Huđavil, (Giải thưởng VIFOTEC 2001), phân bón lá cho chè, lúa, cà phê. Viện cũng đã nghiên cứu được loại phân bón HN-2000, phân bón HUD-5 tạo màu ao nuôi tôm, HUD-6 hạ phèn và xử lý ô nhiễm (được Hội đồng Khoa học thổ nhưỡng Nhà nước nghiệm thu và đánh giá xuất sắc). Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã công nhận giải pháp công nghệ kỹ thuật và sản phẩm mới, cho phép sản xuất lưu hành trên toàn quốc (kiểu dáng công nghiệp số 4494 và 4495. Nhãn hiệu hàng hoá số 27851 và 27853). Hiện nay các sản phẩm này đang được ứng dụng rộng rãi tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long;
- Một số sản phẩm ứng dụng trong nông nghiệp thủy sản cũng đã được nghiên cứu như Chế phẩm CNN-1 chống nấm trên thực vật và động vật nuôi, phòng và chống bệnh thối nhũn Rong sụn (ice-ice disease) và cải thiện môi trường nuôi trồng thuỷ, hải sản; Chế phẩm PUFA bổ sung trong thức ăn chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản được sản xuất từ nguyên liệu là cá tạp và phế liệu thủy sản và bổ sung vào thức ăn sản xuất trong nước góp phần nâng cao chất lượng thức ăn chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, chủ động nguyên liệu trong nước;
- Các sản phẩm phục vụ cho ngành môi trường cũng được chú trọng nghiên cứu ứng dụng và đạt kết quả cao. Điển hình như Chất keo tụ PACN-95 đã cung cấp cho nhiều công ty cấp nước của các tỉnh thành Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, Quảng Ninh, Phú Thọ, Nghệ An, Đà Nẵng, Thủ Đức, Cần Thơ, An Giang, đặc biệt là vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nhằm thay thế phèn nhôm xử lý nước cấp cho sinh hoạt. Chất keo tụ PACN- 95 đã được tham gia vào chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường của Ban chỉ đạo Quốc gia về cung cấp nước sạch. Ngoài ra, sản phẩm PACN 95 được cung cấp cho nhiều nhà máy xử lý nước thải như: nhà máy Giấy Bãi Bằng, XNQL các nhà máy xử lý nước thải Hà Nội, bệnh viện Đa khoa Lạng Sơn, Hà Nam, Thanh Hoá, Quảng Ninh, Lào Cai ... Mỗi năm chất keo tụ làm trong nước PACN 95 được tiêu thụ khoảng 400 tấn, doanh thu từ 3,5 đến 4,0 tỷ đồng. Viện đã nghiên cứu thành công công nghệ xử lý nước thải theo nguyên lý Module, hợp khối ký hiệu V69 và CN-2000, tự động hoá gọn nhẹ và phù hợp với điều kiện Việt Nam và công nghệ này đã được ứng dụng trên 40 trạm xử lý nước thải như Bệnh viện Hữu nghị, Bệnh viện 354, Bệnh viện 19-8, bãi rác thải Nam Sơn - Sóc Sơn và 6 tỉnh lưu vực Sông Đáy-Sông Nhuệ và một số Tỉnh Miền tây Nam Bộ, Tây Nguyên (độc quyền sáng chế số: 145, 092, 086, 038, 033 và 2045485).
Website: www.inpc.ac.vn

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".