Trồng rong Nho biển (Caulerpalentilifera J. Ag, Chlorophyta) dùng làm thực phẩm

Chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Hữu Đại
Đơn vị thực hiện Viện Hải dương học
Thời gian thực hiện 2006 - 2007
Tổng kinh phí 250 triệu đồng
Nội dung đề tài

Mục tiêu

  • Hướng dẫn xây dựng quy trình kỹ thuật trồng rong Nho mới được di nhập.
  • Góp phần tạo ra đa dạng các sản phẩm rong biển đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
  • Khả năng phát triển trồng rong Nho ở Việt Nam.

Nội dung nghiên cứu

  • Nghiên cứu các đặc điểm sinh thái của rong Nho trong điều kiện phòng thí nghiệm và áp dụng các kết quả trong phòng thí nghiệm cho pilot trồng rong trong bể composit và trồng ngoài tự nhiên theo các mô hình trồng đáy và trồng treo.
  • Khảo sát các đặc điểm tăng trưởng, phát triển và năng suất của rong Nho trong quá trình trồng. Các thông số môi trường nuôi, giống, mật độ rong nuôi ban đầu cũng như phương pháp trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản rong sau thu hoạch cũng được tiến hành để có thể đưa ra quy trình nuôi hợp lý.
  • Rong Nho là một loại thực phẩm ăn tươi, cho nên các phân tích về thành phần sinh hóa, các yêu cầu phân tích về vệ sinh an toàn thực phẩm cũng đã được thực hiện.
Kết quả đạt được

Sau thời gian thực hiện đề tài, tập thể tác giả đã thu được các kết quả nghiên cứu như sau:

  • Rong Nho là loài hẹp muối. Độ mặn hạ thấp < 25‰ chúng có biểu hiện chống chịu và nếu < 20‰ chúng sẽ chết, tốt nhất là trong điều kiện nước biển bình thường.
  • Rong Nho không chịu lạnh, khi nhiệt độ hạ thấp đến 200C, chúng tăng trưởng chậm hay ngừng tăng trưởng, nhiệt độ thích hợp nhất cho sự tăng trưởng của rong nho trong khoảng 28-300C.
  • Ngưỡng ánh sáng của rong Nho khá rộng. Cường độ ánh sáng thích hợp trong khoảng 10.000-20.000 lux.
  • Tốc độ tăng trưởng trong phòng thí nghiệm trong khoảng 1,5-2%/ngày, thấp hơn so với nuôi trong tự nhiên > 2%/ngày, có thể đạt 3,19%/ngày. Tỷ lệ phần thân đứng so với toàn tản rong từ 70-80%.
  • Năng suất rong nuôi biến thiên theo mật độ rong nuôi ban đầu và rất khác nhau ở các thí nghiệm khác nhau nhưng đều theo một quy luật chung là năng suất tỷ lệ thuận với khối lượng rong nuôi ban đầu và với thời gian nuôi rong. Mật độ nuôi ban đầu càng cao thì năng suất càng cao. Tuy nhiên, để hợp lý trong sản xuất, nguồn giống ban đầu nên nằm trong khoảng từ 100-200 g.tươi/m2.
  • Sử dụng cách sinh sản dinh dưỡng của rong để nuôi trồng. Tất cả các cơ quan dinh dưỡng như thân bò và thân đứng đều có thể dùng để trồng, nhưng nguồn giống gồm cả thân đứng và thân bò cho năng suất cao nhất.
  • Đã thử nghiệm nuôi trong ao hơn 2000m2 và vùng ven biển cũng hơn 2000m2, năng suất có thể đạt từ 2324-4092g/m2 trong bể composit và từ 1302-1342g/m2 ngoài ao nuôi, lần lượt với mức nguồn giống ban đầu từ 100-200g/m2, tương đương năng suất 13,42 tấn/hecta/vụ nuôi 2 tháng.
  • Sau từ 1,5 đến 2 tháng nuôi trồng rong sẽ được thu hoạch, lấy riêng phần thân đứng, rửa sạch và đóng gói, có thể lưu giữ sống được hơn 10 ngày.
  • Rong Nho là loại thực phẩm xanh có giá trị do có hàm lượng khá cao các vitamin A, C các nguyên tố vi lượng và các axit béo không no rất cần thiết cho cơ thể sinh vật. Rong Nho cũng là thực phẩm an toàn do có mức rất thấp hoặc không có  các vi sinh vật gây bệnh đường ruột.
  • Do các đặc điểm trên, rong Nho có tiềm năng phát triển nuôi trồng ở nước ta, góp phần làm đa dạng sản phẩm nuôi. Ngoài ra về khía cạnh môi trường, do rong có khả năng hấp thụ dinh dưỡng rất nhanh nên có thể được sử dụng trong các mô hình nuôi thủy sản bền vững, nâng cao chất lượng môi trường.

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".