Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Nghiên cứu sinh học phân tử trong quan hệ di truyền họ Đào lộn hột (Anacardiaceae) và họ Trám (Burseraceae) ở Việt Nam

.

Trong tháng 4-5/2010, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cùng với các chuyên gia của Vườn Thực vật New York (NYBG) đã hợp tác khảo sát nghiên cứu để tìm kiếm các loài cây thuộc hai họ thực vật là họ Đào lộn hột (Anacardiaceae) và họ Trám (Burseraceae), với hành trình dài khoảng 6000 km, qua chín tỉnh thành phố của Việt Nam.

Kết quả thu được, sau khi nghiên cứu sinh học phân tử tại Vườn thực vật New York, chỉ ra rằng với họ Anacardiaceae, nhóm nghiên cứu đã tìm thấy và thu được 25 loài thuộc 15 chi thực vật khác nhau, trong đó có 5 chi chưa từng được thu mẫu phân tích phát sinh chủng loại. Một số cây họ Xoài  thu được thuộc về 2 loài trong chi Ngũ liệt (Pentaspadon). Chi này chỉ có ở nhiệt đới châu Á, phân bố từ miền nam Thái Lan đến các đảo Solomon, nhưng cũng mới chỉ có 5 loài được biết đến. Đặc biệt, 2 loài trong số chúng là Ngũ liệt trung bộ (P. annamense) và Ngũ liệt poilane (P. poilanei) mới chỉ được biết đến duy nhất ở Việt Nam.

Theo quan điểm truyền thống, chi Pentaspadon có quan hệ gần gũi với chi Đào lộn hột (Anacardium) và chi Sơn (Toxicodendron) trong phân họ Đào lộn hột (Anacardioideae), nhưng các phân tích dựa trên mẫu sinh học phân tử (ADN) thu thập bởi đoàn khảo sát của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và Vườn thực vật New York lại cho thấy chi Pentaspadon có quan hệ gần gũi hơn với loài Cóc rừng (Spondias pinnata) thuộc phân họ Cóc (Spondioideae). Kết luận này cũng được hai chuyên gia Wannan và Quinn đưa ra năm 1990 dựa trên những bằng chứng của sự giống nhau trong giải phẫu quả.

Dạng sống và nơi sống của loài Pentaspadon poilanei ở núi Tiên Du, gần Nha Trang, Khánh Hòa  Quả loài Pentaspadon annamense, thu được ở Khu BTTN Hòn Bà, Khánh Hòa

 Lá chét của loài Pentaspadon motleyi 

Nhóm nghiên cứu đã thu thập và phân tích quan hệ di truyền loài Rẫm (Bursera tonkinensis), loài này được André Guillaumin đặt tên và công bố năm 1907 dựa trên những mẫu vật thu được ở địa danh có tên là Kẻ Sở, gần Phủ Lý tỉnh Hà Nam. Đây là một loài cực hiếm, mới chỉ có 3 mẫu tiêu bản từng được biết đến, nhưng chuyến khảo sát đã tìm thấy một quần thể nhỏ có 2-3 cá thể cây gỗ nhỏ tại Vườn Quốc gia Cúc Phương. Nhà thực vật học - Guillaumin lại xếp loài này trong chi Bursera, nhưng chi có khoảng 120 loài, phần lớn là những loài đặc hữu của Mexico, nơi chúng chiếm ưu thế trong những cánh rừng khô hạn. Chi Bursera có mối quan hệ gần gũi với chi Commiphora phân bố ở những vùng khô hạn của Châu Phi, Arabia và nam Á, và chỉ có 1 loài được ghi nhận ở vùng đông bắc của Nam Mỹ.

Phát hiện mới đây về chi Bursera cho thấy rằng Bursera tonkinensis, Bursera pereirae và một loài thứ 3 là Bursera inversa - một loài cây gỗ lớn trong rừng mưa của vùng đông bắc Colombia là những loài nằm thấp nhất (cổ nhất) trong nhánh tiến hóa của họ Burseraceae.  Kết quả này là một khẳng định khoa học về họ Anacardiaceae và Burseraceae, về việc xác định vị trí tiến hóa và phân chia các bậc phân loại của số lượng các chi và loài. Đây là lần đầu tiên mối quan hệ gần gũi của các họ này được chỉ rõ.

Nơi sống của loài Bursera tonkinensis - trên vách núi đá vôi ở Vườn Quốc gia Cúc Phương
Vỏ và sẹo trên thân Cấu trúc gân lá

TS.Nguyễn Thế Cường, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
TS. Douglas Daly, TS. John Mitchell và TS. Susan Pell
Vườn Thực vật New York (NYBG)
Xử lý tin: Thanh Hà

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".