Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Phân bố và điều kiện sinh thái cho tồn tại và phát triển của loài Chuột đá trường sơn (Laonestes aenigmamus) tại Minh Hóa, Quảng Bình

.

Năm 2005, trên cơ sở nghiên cứu các mẫu vật thú lạ thu được ở khu vực núi đá vôi thuộc tỉnh Khăm Muộn (Lào), Jenkins và cộng sự đã công bố một loài thú mới  là Laonastes aenigmamus. Một năm sau đó, Dawson và cộng sự (2006) so sánh đặc điểm hình thái của loài thú mới này với các hóa thạch thú gặm nhấm cổ đại đã xác định loài Laonastes aenigmamus thuộc họ thú cổ Diatomyidae, đã bị xem là "tuyệt chủng" cách đây 11 triệu năm. Như vậy, Laonastes aenigmamus là loài duy nhất còn sống đến ngày nay của họ thú cổ Diatomyidae. Việc phát hiện ra loài Laonastes aenigmamus được xem là một hiện tượng "hiệu ứng hồi sinh" (lazarus effect) rất hiếm gặp trong lịch sử nghiên cứu thú của thế giới. Hiệu ứng hồi sinh là một hiện tượng tái xuất hiện của một bậc phân loại sau một thời gian dài hàng triệu năm bị xem là đã tuyệt chủng. 

Năm 2011-2012, nhóm nghiên cứu của PGS. TS. Nguyễn Xuân Đặng đã thực hiện nhiều đợt điều tra khảo sát khu hệ thú nhỏ tại khu vực mở rộng của VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, và  phát hiện sự hiện diện của loài Laonastes aenigmamus tại huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Chuột đá trường sơn (CĐTS) có vùng phân bố rất hạn chế, cho đến nay mới chỉ được ghi nhận ở một số khu vực nhỏ thuộc vùng cảnh quan núi đá với Phong Nha - Kẻ Bàng (Việt Nam) và Phu Hin Pun - Hin Nậm Nô (Lào). Chúng thường xuyên bị người dân địa phương săn bắt làm thực phẩm nên có nguy cơ tuyệt chủng cao. Danh mục Đỏ Thế giới (2016) đã xếp CĐTS vào bậc "nguy cấp - EN". Tuy nhiên cho đến nay, có rất ít công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh thái và điều kiện sống của Chuột đá Trường sơn nhằm phục vụ công tác bảo tồn loài. Vì vậy, trong các năm 2014-2016, nhóm các nhà khoa học thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã thực đề tài nghiên cứu cấp Viện hàn lâm KHCNVN "Nghiên cứu phân bố và điều kiện sinh thái cho tồn tại và phát triển của loài Chuột đá trường sơn (Laonestes aenigmamus) tại Minh Hóa, Quảng Bình và đề xuất biện pháp bảo tồn" (mã số: VAST04.01/14-15 do PGS TS. Nguyễn Xuân Đặng làm chủ nhiệm) nhằm xác định phạm vi vùng phân bố và các điều kiện sinh thái cho sự tồn tại và phát triển của loài Chuột đá trường sơn ở Việt Nam.

nxdang1
Chuột đá trương sơn chụp tại xã Thượng Hóa,  huyện Minh Hóa, Quảng Bình

Các nội dung nghiên cứu của đề tài gồm: 1) Xác định phạm vi vùng phân bố của Chuột đá trường sơn tại  huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình; 2) Nghiên cứu hiện trạng quần thể và một số đặc điểm sinh học, sinh  thái cơ bản của Chuột đá trường sơn; 3) Nghiên cứu đặc điểm dân sinh kinh tế và  truyền thống khai thác sử dụng tài nguyên động, thực vật hoang dã trong vùng nghiên cứu; 4) Đánh giá các đe dọa đối với quần thể Chuột đá trường sơn và sinh cảnh của chúng; 5) Đề xuất các giải pháp bảo tồn Chuột đá trường sơn. Sau 3 năm thực hiện, Đề tài đã thu được những kết quả quan trong sau:

  • Xác định được vùng phân bố của CĐTS rộng khoảng 10.000 ha, thuộc địa phận các xã Thượng Hóa, Hóa Sơn, Trung Hóa và Dân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Hầu hết diện tích của vùng phân bố này đều thuộc vùng đệm của VQG Phong Nha - Kẻ Bàng.
  • Xác định được sự khác nhau có ý nghĩa thống kê giữa nhiều chỉ tiêu hình thái cơ thể, hình thái sọ và trình tự ADN của các quần thể CĐTS ở Phong Nha - Kẻ Bảng và ở Khăm Muộn, Lào. Quần thể CĐTS tại Phong Nha - Kẻ Bàng có thể là loài khác so với quần thể CĐTS ở Khăm Muộn, Lào.
  • Xác định được đặc điểm nơi trú ẩn của CĐTS là các hang đá tự nhiên trên các sườn núi đá vôi dốc dưới tán rừng tự nhiên với tầng thảm tươi tương đối rậm rạp, ở độ cao 250-500 m so với mặt biển. CĐTS hoạt động ban đêm trên mặt đất, luồn lách giữa các tảng đá để trốn tránh kẻ thù, sinh sản ở các tháng khác nhau trong năm và mỗi lứa chuột cái chỉ có 1-2 con.
  • Xác định được CĐTS sống và hoạt động ở 2 sinh cảnh rừng nguyên sinh hoặc ít bị tác động là: rừng kín thường xanh cây lá rộng trên núi đá caxtơ thấp (độ cao bình độ 300-700 m so với mặt biển) và rừng kín thường xanh cây lá rộng đất thấp trong các thung lũng núi đá vôi (độ cao bình độ 250 - 450 m so với mặt biển), trong đó, chủ yếu ở kiểu sinh cảnh thứ nhất. Mô tả một số chỉ tiêu định lượng về yêu cầu sinh cảnh phù hợp cho CĐTD. CĐTS là loài ăn thực vật. Thức ăn chủ yếu là lá, quả, hạt, rễ và củ của nhiều loài thực vật (đã thống kê được 29 loài). Ngoài ra, chúng cũng ăn một số loài côn trùng.
  •  Xác định được tác động đe dọa mạnh nhất đến quần thể CĐTS trong vùng là "Hoạt động bẫy bắt động vật hoang dã" và "Phá rừng làm nương rẫy trong các thung lũng sát chân núi đá vôi". Nguyên nhân chính gây nên các tác động xấu đến tài nguyên rừng và quần thể CĐTS là sự nghèo đói và lạc hậu của các dân tộc địa phương (Rục, Sách, Khùa,...) và sự tác động của thị trường buôn bán động vật hoang dã trong vùng.

Bên cạnh đó, đề tài đã đề xuất 6 nhóm giải pháp bảo tồn lớn là: 1) Thành lập "Khu bảo tồn loài và sinh cảnh CĐTS" tại vùng cư trú đã xác định của CĐTS, 2) Xem xét đưa CĐTS vào Sách Đỏ Việt Nam và các văn bản pháp lý về bảo tồn động vật hoang dã ở Việt Nam, 3) Đầu tư phát triển kinh tế nâng cao đời sống cho người dân các thôn bản trong và gần khu phân bố hiện nay của CĐTS, 4) Xây dựng và thực hiện các chương trình gây nuôi bảo tồn bán hoang dã CĐTS, 5) Điều giám sát hiện trạng quần thể CĐTS trong khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng, 6) VQG Phong Nha - Kẻ Bàng cần thực hiện các giải pháp bảo tồn cấp thiết trước mắt (tuyền truyền nâng cao nhận thức, tăng cường tuần tra bảo vệ rừng,..).

nxdang2
Sinh cảnh của Chuột đá trường sơn ở Minh Hóa, Quảng Bình

Đề tài là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính hệ thống và toàn diện về đặc điểm sinh học, sinh thái của một loài thú quý hiếm, mới được phát hiện ở Lào năm 2005 và ở Việt Nam năm 2012. Đề tài đã cung cấp bộ tư liệu khoa học đầy đủ nhất và cập nhật nhất về quần thể CĐTS ở Phong Nha - Kẻ Bàng. Xác định được vùng phân bố và các yêu cầu sinh thái quan trọng nhất cho sự tồn tại và phát triển của quần thể Chuột đá trường sơn ở Phong Nha - Kẻ Bàng và đề ra được các giải pháp cụ thể cho bảo tồn và phát triển loài thú quý, hiếm này. Ngoài ra, trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề tài đã thu được 3 mẫu Chuột đá trường sơn cho Bảo tàng động vật của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật. Đề tài đã công bố 02 công trình khoa học trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước và quốc tế.

Ngày 18/1/2017, Đề tài đã được Hội đồng nghiệp thu Cấp Viện HLKHCNVN nghiệm thu và đánh giá xếp loại Khá.

Cung cấp tin: PGS TS. Nguyễn Xuân Đặng
– Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

Xử lý tin: Minh Tâm

 

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".