Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Điều tra, đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại một số xã vùng cao huyện Na Hang

.

Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Na Hang có 1.162 loài thực vật, thuộc 604 chi, 159 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong số 1162 loài thực vật được ghi nhận tại Khu BTTN Na Hang, có 558 loài thực vật được ghi nhận có giá trị làm thuốc (theo Nguyễn Nghĩa Thìn và Đặng Quyết Chiến – 2006).

Việc nghiên cứu hiện trạng của nguồn tài nguyên cây thuốc có vị trí rất quan trọng trong nguồn tài nguyên sinh vật ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang. Đây là những tư liệu góp phần làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng chiến lược quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống của người dân địa phương. Xuất phát từ mục tiêu đó, PGS.TS.Trần Huy Thái, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã thực hiện đề tài: “Điều tra, đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại một số xã vùng cao của huyện Na Hang, đề xuất giải pháp bảo tồn và sử dụng bền vững một số loài có giá trị và triển vọng”; Mã số: VAST.NĐP.18/15-16. Đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu và đánh giá xếp loại xuất sắc ngày 9/5/2017.

Theo kết quả nghiên cứu của đề tài, tại các xã vùng cao huyện Na Hang (Khâu Tinh, Côn Lôn, Sơn Phú, Thanh Tương), tỉnh Tuyên Quang có 647 loài thực vật được ghi nhận sử dụng làm thuốc, thuộc 137 họ, 4 ngành thực vật. Đó là: ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có 3 loài thuộc 2 họ; Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 20 loài thuộc 12 họ; ngành Thông (Pinophyta) có 6 loài thuộc 4 họ; ngành  Mộc lan (Magnoliophyta) có 618 loài thuộc 119 họ.

Hình 1: Biểu đồ tỷ lệ số lượng các họ và loài cây thuốc tại các xã vùng cao Na Hang

nahang.1

647 loài cây thuốc tại các xã vùng cao huyện Na Hang được dùng để chữa trị 13 nhóm bệnh: Nhóm 1: Các bệnh đau nhức: 126 loài, Nhóm 2:  Bệnh ngoài da: 283 loài, Nhóm 3:  Bệnh ngoại thương: 171 loài, Nhóm 4: Bệnh về hô hấp: 147 loài, Nhóm 5:  Bệnh về tiêu hoá: 239 loài, Nhóm 6: Bệnh về tiết niệu và gan thận: 185 loài, Nhóm 7:  Bệnh ngoại cảm: 127 loài, Nhóm 8: Bệnh phụ nữ: 120 loài, Nhóm 9: Bệnh về huyết mạch: 36 loài, Nhóm 10: Bệnh trẻ em: 33 loài, Nhóm 11: Bệnh về sinh dục: 14 loài, Nhóm 12: Bệnh về tâm thần: 23 loài, Nhóm 13: Bệnh suy nhược không đau: 31 loài.

Đề tài đã xác định số cây thuốc mà 3 dân tộc ở đây sử dụng, trong đó người Tày sử dụng 223, người Cao Lan sử dụng 209 loài, người Dao sử dụng 164 loài. Trong cùng một nhóm bệnh thì số loài cây thuốc mà người Dao sử dụng nhiều hơn. Trong 10 bộ phận được sử dụng làm thuốc thì thân được sử dụng nhiều nhất, tiếp đến là lá, toàn cây và rễ, củ quả và hạt. Có 30 loài cây thuốc quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng được ưu tiên bảo tồn.

Đề tài đã thành lập Bản đồ phân bố một số loài thực vật quí hiếm tỷ lệ 1/50.000 trên cơ sở biên tập các lớp thông tin nền và thông tin về thành phần loài đã thu thập được qua điều tra thực địa.

nahang.2

Bản đồ phân bố một số loài thực vật quý hiếm tại Khu bảo tồn Na Hang

Đã xác định khả năng tái sinh, mật độ tái sinh chủ yếu của các loài theo các đai cao từ 400-900 m, trong đó, cây tái sinh ở chân núi chiếm tỷ lệ cao nhất như Thiên niên kiện (1.866 cây/ha); Tế tân (chiếm 3.000 cây/ha), loài Bình vôi 100 cây/ha. Loài Dây đau xương là 505,56 cây/ha. Loài Râu hùm là 311,11 cây/ha. Chất lượng tái sinh không đồng đều, cây tốt chiếm tỷ lệ 46,43%, cây trung bình và cây xấu tương ứng là 37,50% và 16,07%. Cây tái sinh từ cả từ chồi và hạt (tỷ lệ tương ứng 64,29% và 35,71%).

Đề tài lựa chọn 10 loài cây thuốc có triển vọng để thử nghiệm nhân giống, trồng và phát triển tại vườn ươm ở Thác Mơ, Sơn Phú, Na Hang. Có 5 loài cây thuốc có tỷ lệ ra rễ cao sau 50 ngày nhân giống là loài Tế tân balansa, Bách bộ, Râu hùm, Nghệ và Nghệ đen; 5 loài cây thuốc có tỷ lệ ra rễ thấp là Thiên niên kiện, Dây đau xương, Bình vôi, Giảo cổ lam và loài Hà thủ ô đỏ.

nahang.3 nahang.4
Ngũ vị tử (Schisandra plena A. C. Smith), Ảnh: N. T. Cường Tế tân balansa (Asarum balansae Franch.), Ảnh: N. T. Cường
nahang.5 nahang.6
Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson), Ảnh: N. T. Cường Nghệ đen (Curcuma zedoaria (Berg.) Rosc.), Ảnh: N. T. Cường

Đề tài đã tiến hành sàng lọc hoạt tính sinh học từ dịch chiết các loài cây thuốc và cho kết quả như sau:

Có 7 mẫu TQ02, TQ05, TQ07, TQ10, TQ11, TQ15, TQ16 có tác dụng diệt tế bào ung thư phổi H1975; 3 mẫu TQ05, TQ14, TQ15 ức chế tế bào ung thư vú MCF-7; mẫu TQ05 diệt tế bào ung thư vú MDA-MB-231; mẫu TQ13 có khả năng diệt tế bào ung thư tuỵ tạng PANC1. Trong đó, mẫu TQ02 có tác dụng mạnh nhất với tỉ lệ ức chế đến 73% (tế bào còn sống sót 27%) ở 100 µg/ml đối với dòng tế bào ung thư phổi H1975. Do vậy mẫu này được lựa chọn để nghiên cứu sâu hơn về thành phần hoá học.

Đã khảo sát hoạt tính ức chế enzyme α-glucosidase và α-amylase của các mẫu, kết quả cho thấy có 6 mẫu có tác dụng rất mạnh α-glucosidase (ức chế >50% ở 100 μg/ml) gồm TQ03, TQ04, TQ08, TQ09, TQ10, TQ13. Có 9 mẫu khác thể hiện tác dụng trung bình (ức chế >50% ở 500 μg/ml) là TQ03, TQ04, TQ06, TQ08, TQ09, TQ10, TQ13, TQ15, TQ17. Đối với α-amylase, có 3 mẫu có tác dụng ức chế >50% ở 500 μg/ml gồm TQ05, TQ15, TQ17. Trong số các mẫu này có TQ13 Miliusa sinensis thể hiện tác dụng ức chế α-glucosidase đáng chú ý, đồng thời theo tra cứu loài này chưa được nghiên cứu về hoạt tính ức chế α-glucosidase. Do đó mẫu này được lựa chọn để nghiên cứu sâu hơn về thành phần hoá học.

Đề tài đã đánh giá tác dụng gây độc tế bào ung thư của các chất sạch: Dựa theo kết quả sàng lọc hoạt tính sinh học của các mẫu cao chiết thô, mẫu TQ02 có tác dụng ức chế dòng tế bào ung thư phổi H1975. Do đó các chất sạch phân lập được từ mẫu TQ02 được đánh giá tác dụng gây độc tế bào trên các dòng ung thư phổi H1975, A549 và khảo sát thêm trên dòng MCF-7. Kết quả cho thấy chất mới 3-Methoxybenzensulfonic acid 4-O-β-D-glucopyranoside (MMWB8.1) và hợp chất methyl salicylate 2-rutinoside (MMWB8.8) có tác dụng trên cả 3 dòng tế bào thử nghiệm. Trong khi đó chất leonuriside A (MMWB9.4) lại có tác dụng rất mạnh trên tế bào ung thư vú MCF-7.

Đề tài đã phân tích thành phần hóa học và nghiên cứu thử nghiệm y học (in vitro) của một số chất theo định hướng kháng ung thư như sau:

Đã phân lập và xác định được 11 hợp chất từ loài Mallotus microcarpus gồm: MMWB4.2 (Guaiacylglycerol 1-(4-Hydroxy-3-methoxyphenyl)-1,2,3-propanetriol), MMWB6.5; MMWB7.1 (Zansimuloside A);  MMWB8.1 (3-methoxybenzensulfonic acid 4-O-B-D-glucospyranoside) (Chất mới); MMWB8.5 (Erigeside); MMWB8.7 (3,4’-Dihydroxypropiophenone 3-O-glucoside); MMWB8.8 (Methyl salicylate 2-rutinoside); MMWB9.4 (Leonuriside A); MMWB9.6 (Syringin) ; MMWB9.8 (Coniferin); MMWB9.9 (Hovetrichoside A) và 3 hợp chất từ loài Miliusa sinensis gồm MSW2.1 (Kaempferol 3-O-(2,6-di-O-α-L-rhamnopyranosyl-β-D-galactopyranoside); MSW2.2 (Quercetin 3-O-(2,6-di-O-α-L-rhamnopyranosyl-β-D-galactopyranoside); MSW5.1: Daucosteol.

Tạo chế phẩm giàu hoạt chất từ mẫu Mallotus microcarpus là SP1 và thử nghiệm nghiên cứu độc tính bán trường diễn trên chuột. Kết quả nghiên cứu độc tính cấp của mẫu thử nghiệm cho thấy chế phẩm SP1 nghiên cứu ở các liều nghiên cứu không gây chết động vật thí nghiệm theo đường uống. Do đó, kết luận SP1 là an toàn, không gây chết động vật thí nghiệm dù đã thử ở liều rất cao 20g/kg.

Kết quả nghiên cứu khả năng kháng u của mẫu thử nghiệm trên mô hình chuột gây u thực nghiệm bằng dòng tế bào LLC (Lewis Lung Carcinoma): Sau 28 ngày uống SP1 liều 250 mg/kg/ngày ức chế khoảng 5,38% sự phát triển của khối u so với đối chứng. Mức liều này làm giảm chỉ số bạch cầu và gây tăng chỉ số tiểu cầu so với đối chứng ở mức có ý nghĩa thống kê theo chiều hướng tích cực. SP1 liều 500 mg/kg/ngày ức chế khoảng 12.95% sự phát triển của khối u so với đối chứng, làm tăng chỉ số tiểu cầu, hemoglobin, giảm chỉ số bạch cầu theo hướng tích cực so với đối chứng.

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học đã đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển bền vững một các loài cây thuốc tại Na Hang như:  Tăng cường hiệu quả trong sử dụng đất lâm nghiệp; Sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Nâng cao chất lượng trong nghiên cứu bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc; Xây dựng các mô hình bảo tồn: Bảo tồn nguyên vị và Bảo tồn chuyển vị; Nâng cao năng lực tiếp cận thị trường.

Qua các đợt khảo sát, các nhà khoa học đã xác định nguyên nhân gây suy giảm đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại Na Hang như sau: tăng dân số và nhu cầu phát triển kinh tế xã hội; chặt phá rừng; khai thác quá mức.

Bên cạnh đó, nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn, nhận biết các loài cây thuốc quý hiếm cho người dân địa phương, đề tài đã tổ chức các lớp tập huấn cho các hộ dân đang sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực dược liệu về vấn đề trồng và thu hái dược liệu bền vững; hướng dẫn các kỹ thuật trồng, thu hái, chế biến, bảo quản nhằm đảm bảo chất lượng dược liệu.

Về ứng dụng: Đề tài đã cung cấp các cơ sở khoa học về nguồn tài nguyên cây thuốc tại KBTTN Na Hang, thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các loài nghiên cứu làm cơ sở cho việc gây trồng phát triển và bảo tồn chúng đối nhằm nâng cao nhận thức quản lý với cán bộ trong khu bảo tồn cũng như người dân vùng đệm.

Nguồn tin: PGS.TS. Phạm Huy Thái, chủ nhiệm đề tài
Xử lý tin: Thanh Hà

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".