Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Đánh giá mức độ đa dạng nguồn gen và ứng dụng chỉ thị phân tử trong hỗ trợ chọn lọc giống gà Liên Minh

.

Chọn giống bằng di truyền số lượng dựa trên kiểu hình của cá thể đã mang lại hiệu quả đáng kể cho ngành chăn nuôi trong nhiều thập kỷ qua. Tuy nhiên, nó cũng bộc lộ một số hạn chế, nhất là đối với các tính trạng khó xác định dựa trên kiểu hình (tính thích nghi, kháng bệnh), hoặc chỉ biểu hiện khi cá thể đã trưởng thành (khả năng cho sữa, sinh sản). Sử dụng chỉ thị phân tử hỗ trợ chọn giống giúp khắc phục được các hạn chế trên của chọn lọc truyền thống. Cơ sở khoa học của nghiên cứu này dựa trên cơ sở dữ liệu các gen, các vùng trên nhiễm sắc thể liên quan tính trạng kinh tế (Quantitative Trait Loci – QTL) của chương trình nghiên cứu hệ gen vật nuôi thế giới (http://www.animalgenome.org/cgi-bin/QTLdb/GG/index) trong đó, ứng dụng các chỉ thị phân tử trong hỗ trợ chọn giống bằng phân tích tương quan giữa các chỉ thị, gen ứng cử liên quan với tính trạng kinh tế quan tâm. Bản đồ QTL hiện tại ở gà chứa 10.817QTLs liên quan đến 402 tính trạng khác nhau, trong đó 8.146 chỉ thị liên quan tính trạng tăng trưởng, 720chỉ thị liên quan tính trạng mẫn cảm bệnh, 382 chỉ thị liên quan tính trạng sinh sản,.... (thông tin truy cập 15/09/2018). Các nghiên cứu phân tích với mục tiêu khai thác các đặc tính di truyền nhằm cải thiện các tính trạng kinh tế theo các định hướng chọn lọc ngày càng được quan tâm và mở ra tiềm năng ứng dụng và khai thác các chỉ thị gen trong hỗ trợ chọn lọc giống vật nuôi nói chung và giống gà nói riêng.
Gà Liên Minh là một giống gà bản địa hiện được nuôi chăn thả tại làng Liên Minh, xã Trân Châu huyện Cát Hải thành phố Hải Phòng từ rất lâu đời. Trong Chương trình bảo tồn quỹ gen vật nuôi Quốc gia, từ năm 2008, gà Liên Minh là giống gà bản địa được đưa vào danh mục bảo tồn giống vật nuôi quý hiếm. Giống gà có đặc điểm đẹp về ngoại hình và màu sắc lông, da vàng, phẩm chất thịt thơm ngon, lớp mỡ dưới da mỏng, da giòn và dai hơn gà Ri, thịt có vị ngọt đậm đà, mang hương vị đặc trưng. Với mục đích hỗ trợ  việc bảo tồn và phát triển giống gà Liên Minh, đề tài ”Đánh giá mức độ đa dạng nguồn gen và ứng dụng chỉ thị phân tử trong hỗ trợ chọn lọc giống gà Liên Minh”, mã số VAST.NĐP 01/15-16 do TS. Nguyễn Thị Diệu Thúy – Viện Công nghệ sinh học làm chủ nhiệm, đã tiến hành phân tích đa hình di truyền các ứng cử gen và tương quan di truyền của chúng với tính trạng năng suất trứng ở giống gà Liên Minh.

Đây là nghiên cứu đầu tiên về đánh giá đa dạng nguồn gen và phân tích tiềm năng ứng dụng của các chỉ thị gen trong hỗ trợ chọn lọc giống gà Liên Minh. Sau 3 năm thực hiện, đề tài đã thu được các kết quả chính như sau:

  1. Mức độ đa dạng nguồn gen của gà Liên Minh, cụ thể là các thông số đa dạng di truyền và vị trí gà Liên Minh trong cây phân loại di truyền (cùng các giống gà bản địa khác);
  2. Xác định được 01 kiểu gen TT (VIPR1/ TaqI) có lợi liên quan tính trạng số lượng trứng trung bình trong 20 tuần và 02 kiểu gen dị hợp tử ID (locus PRL24) và CT (locus PRL5) có lợi cho tính trạng trọng lượng trứng trung bình trong 20 tuần đẻ trứng. Ngoài ra, mối tương quan giữa chỉ thị gen PRL24 (ID) với tính trạng trọng lượng trứng trung bình đã được xác nhận khi kiểm tra trên thế hệ kế tiếp;
  3. Trình tự nucleotide vùng D-loop gen ty thể gà Liên Minh (n=24), gà Đông Tảo (n=18), Gà Nhạn (n=18) và Gà Chín Cựa (n=6) đã được đăng ký trên ngân hàng gen quốc tế (KY172116-KY172121; MH425591- MH425608) hỗ trợ cho việc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá đặc sản địa phương của gà Liên Minh.


ntdthuy1

Cây phả hệ di truyền dựa trên trình tự D-loop gen ty thể 3 giống gà Liên Minh gà Đông Tảo và Gà Nhạn xây dựng theo phương pháp Neighbor-joining sử dụng MEGA với giá trị bootstrap 1.000 lần theo phân loại của Oka và cs (2007)

Bảng. Mối liên quan giữa đa hình gen và tính trạng sản xuất trứng ở gà Liên Minh

ntdthuy2

TBĐĐT: tuổi bắt đầu đẻ trứng; KLQTĐT: Khối lượng quả trứng đầu tiên; SLT: số lượng trứng; KLTTB: khối lượng trung bình của trứng; CSHDTB: chỉ số hình dạng trứng trung bình; a,b or A,B: các giá trị có sự khác biệt tương ứng với mức ý nghĩa P<0,05 hoặc P<0,01 

Ngoài các kết quả nghiên cứu khoa học trên, đề tài đang đào tạo 01 nghiên cứu sinh thực hiện nội dung nghiên cứu của đề tài, dự kiến bảo vệ tháng 05/2019,  đào tạo 03 cử nhân sinh học đã bảo vệ thành công khóa luận tốt nghiệp; công bố 01 bài báo trên tạp chí Công nghệ sinh học năm 2018, tập 16, số 2; 04 bài báo trên tạp chí khoa học và Hội nghị Khoa học toàn quốc; 01 bài báo quốc tế trên tạp chí Livestock Research for Rural Development, tập 30, số 6 (trong danh mục tạp chí xếp hạng Scopus); và 01 bản thảo bài báo đã gửi đăng ngày 17/09/2018 trên tạp chí Journal of Poultry Science.

Ngày 17/09/2018, Hội đồng Khoa học và Công nghệ cấp Viện Hàn lâm nghiệm thu đề tài và đánh giá xếp loại Xuất sắc.


Nguồn tin: TS. Nguyễn Thị Diệu Thúy – Viện Công nghệ sinh học
Xử lý tin: Minh Tâm

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".