Tin Khoa học - Công nghệ trong nước

Ứng dụng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật trong nhân giống và xây dựng mô hình trồng cây Đinh lăng lá nhỏ tại tỉnh Trà Vinh

Đinh lăng lá nhỏ, hay còn có tên gọi là cây Gỏi cá, Nam dương lâm, thuộc họ ngũ gia bì (Araliaceae), có tên khoa học là Polyscias fruticosa (L.) Harms. Từ lâu, Đinh lăng lá nhỏ là một dược liệu được sử dụng khá rộng rãi với tác dụng tăng lực, chống mệt mỏi, giúp tăng cường khả năng lao động và hoạt động trí não,… Một số dược tính của dịch ly trích từ cây Đinh lăng lá nhỏ cũng đã được kiểm chứng, như: khả năng tăng cường hệ thống miễn dịch, kháng virus, kháng khuẩn, chống bệnh lỵ, giúp lợi tiểu và các bệnh truyền nhiễm, hạ sốt, giảm đau và kháng oxy hóa, kháng viêm. Đinh lăng là cây có thể sử dụng các bộ phận khác nhau để làm dược liệu. Theo danh mục các loài dược liệu có tiềm năng khai thác và phát triển thị trường được Bộ Y tế ban hành (04/01/2012), cây Đinh lăng là một trong 40 loài có tiềm năng khai thác và phát triển.

Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài thực vật bậc cao có mạch tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, tỉnh Thanh Hóa và đề xuất các giải pháp bảo tồn

Khu bảo tồm thiên nhiên (KBTTN) Pù Hu gồm hệ sinh thái núi đất cao xen kẽ với những hệ sinh thái núi đá vôi được đánh giá là KBT có giá trị về khoa học, kinh tế xã hội và du lịch sinh thái. Rừng ở khu vực Pù Hu đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn sông Mã, sông Luồng. Đến nay, KBTTN Pù Hu đã có một số nghiên cứu điều tra cơ bản của các nhà khoa học, các tổ chức quốc tế,... nhưng nhìn chung, các công trình chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát, phát hiện thành phần loài, chưa xây dựng bộ tiêu bản cũng như cơ sở dữ liệu về tài nguyên sinh vật của KBT. Ngoài ra, KBT còn có các mối đe dọa chính làm suy giảm đa dạng sinh học như: khai thác gỗ trái phép, xây dựng cơ sở hạ tầng, nạn phá rừng, canh tác và phát triển du lịch; đặc biệt hiện nay, công trình thủy điện Trung Sơn đang được xây dựng trên sông Mã, ngay sát KBTTN sẽ gây nên những tác động tiêu cực rất lớn đến khu hệ thực vật nói riêng và sự đa dạng sinh học nói chung của khu BTTN.

Giải mã hệ gen lục lạp của sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.)

Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) thuộc chi Nhân sâm (Panax L.), còn có các tên gọi khác là sâm Việt Nam, sâm Khu Năm (K5), sâm Trúc (sâm Đốt trúc, Trúc tiết sâm), củ Ngải rọm con hay cây Thuốc giấu. Sâm Ngọc Linh là loài đặc biệt có giá trị về khoa học và kinh tế, với thành phần saponin, hàm lượng các amino acid, các chất khoáng vi lượng trong củ, lá và rễ hơn nhiều loài sâm khác. Ngoài tác dụng dược lý, sâm Ngọc Linh còn giúp chống căng thẳng, trầm cảm, oxy hóa... Do vùng phân bố hạn chế và việc khai thác quá mức, sâm Ngọc Linh trở nên khan hiếm trong tự nhiên và được đưa vào Danh lục đỏ của IUCN (2003), cũng như danh sách các loài hạn chế khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại.

Nghiên cứu chế tạo màng phủ kị nước cho kính quan sát phục vụ An ninh – Quốc phòng

Trong kỹ thuật An ninh - Quốc phòng, kính quan sát có vai trò rất quan trọng, tùy theo mục đích sử dụng mà người ta chế tạo ra các loại kính quan sát khác nhau. Để đảm bảo tính chính xác về mặt quang học, vấn đề bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa kính quan sát luôn là nhiệm vụ được các đơn vị kỹ thuật quan tâm. Với khí hậu nóng, ẩm của nước ta,  kính quan sát sau một thời gian sử dụng thường xuất hiện vết mờ, mốc, làm giảm và mất tính năng kỹ thuật của kính. Nguyên nhân mờ là do trong quá trình sử dụng, kính tiếp xúc với môi trường có độ ẩm cao, gây đọng ẩm trên bề mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho nấm mốc phát triển và tiết ra các axit hữu cơ như axit oxalic, citric, gluconic,… gây ăn mòn kính.

Công bố chín loài động vật không xương sống mới phát hiện được ở phía Bắc Việt Nam

Chín loài động vật không xương sống mới, bao gồm 2 loài bọ cạp và 7 loài nhện, được phát hiện bởi PGS.TS. Phạm Đình Sắc thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và các đồng nghiệp trong nước và quốc tế. Mô tả của loài được công bố trên hai Tạp chí Quốc tế uy tín Comptes Rendus Biologies 341(4): 264-273 (tháng 5 năm 2018) và Zookeys 734: 13-42 (tháng 2 năm 2018). Nghiên cứu được tài trợ kinh phí bởi đề tài cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, mã số VAST04.09/16-17.

Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây rau dền cơm Amaranthus lividus L. (A. viridis L.) thu hái tại Việt Nam

Cây rau dền cơm có tên khoa học là A. lividus L. (A. viridis L.), ngoài ra còn có tên khác như dền trắng, dền đất, dền xanh là cây thuộc họ rau dền Amaranthaceae. Cây rau dền cơm A. lividus (A. viridis) được sử dụng phổ biến làm rau ăn (vì có chứa nhiều các vitamin, muối khoáng, protein) và còn được sử dụng để làm thuốc trong y học cổ truyền. Theo y học cổ truyền Việt Nam và Trung Quốc, cây rau dền cơm A. lividus (A. viridis) được sử dụng trong các bài thuốc có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, sát trùng, trị độc, điều trị ong đốt, mụn nhọt. Ở các nước phương đông như Ấn độ, Philippin, rau dền cơm A. lividus (A. viridis) được dùng điều trị tiểu đường, các vết côn trùng cắn (rắn, bò cạp), điều trị táo bón, viêm nhiễm, các bệnh mụn nhọt ở da, thiếu máu. Các nghiên cứu về sinh học, dược lý hiện đại cho thấy rau dền cơm A. lividus (A. viridis) có tác dụng chống ung thư, chống oxy hóa, kháng khuẩn, chống tiểu đường.

Bản quyền thuộc về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Khi phát hành lại thông tin trên Website cần ghi rõ nguồn: "Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam".